Tính can chi ngày - tháng - năm
Can chi là cách gọi tên thời gian bằng cặp Thiên Can và Địa Chi, lặp lại theo chu kỳ 60. Nhập một ngày dương lịch, trang trả về đủ ba tầng can chi của ngày, tháng và năm, là bộ dữ kiện gốc để xem ngày tốt xấu, xem tuổi và xem giờ.
Chọn ngày cần tra can chi
Kết quả
- Dương lịch
- 17/9/2026
- Âm lịch
- 7/8/2026
- Can chi năm
- Bính Ngọ
- Can chi tháng
- Đinh Dậu
- Can chi ngày
- Giáp Ngọ
Ngày 17/9/2026 mang can chi gì?
Ngày 17/9/2026 dương lịch là ngày Giáp Ngọ, thuộc tháng Đinh Dậu năm Bính Ngọ theo âm lịch, ứng với ngày 7/8 âm.
Trong ba tầng trên, can chi ngày Giáp Ngọ là tầng quyết định ngày này tốt hay xấu và giờ nào trong ngày là giờ đẹp; can chi năm Bính Ngọ mới là tầng dùng để xem tuổi và xem hạn. Muốn biết ngày Giáp Ngọ hợp việc gì, xem ngày tốt xấu theo từng việc.
Can chi ngày, tháng và năm khác nhau ở chỗ nào?
Ba tầng can chi chạy độc lập với nhau và dùng cho ba nhóm việc khác nhau. Đây là chỗ dễ nhầm nhất khi mới tra.
Tầng năm gắn với tuổi và con giáp, dùng để xem tuổi, xem hạn, xét hợp khắc giữa hai người. Tầng tháng tính từ tháng Giêng luôn là tháng Dần, dùng khi luận vận theo mùa.
Tầng ngày tinh vi nhất: nó chạy liên tục theo chu kỳ 60 ngày, không phụ thuộc tháng nhuận hay năm nhuận. Chính tầng này quyết định ngày tốt xấu và bộ giờ hoàng đạo trong ngày.
Vì sao can chi ngày khó tự tính nhất?
Can chi năm và tháng tính nhẩm được bằng phép chia đơn giản, nhưng can chi ngày phải đếm liên tục từ một mốc gốc trong quá khứ, thường quy về số ngày Julius. Chu kỳ 60 ngày không trùng với tháng dương lịch cũng không trùng với tháng âm lịch, nên không có mẹo nhẩm nào đúng cho mọi ngày.
Can chi năm thì ngược lại, nhẩm được ngay: lấy năm dương chia cho 60 rồi đối chiếu số dư, hoặc đơn giản hơn là nhớ một mốc quen rồi cộng trừ theo bội số 60. Can chi tháng cũng có quy tắc cố định vì tháng Giêng âm lịch luôn là tháng Dần, các tháng sau đi tuần tự theo mười hai chi.
Đó là lý do lịch vạn niên truyền thống luôn in sẵn can chi từng ngày thay vì dạy công thức. Trang này tính đúng theo cách đó, bạn chỉ cần nhập ngày.
Năm âm lịch có tháng nhuận thì can chi tính ra sao?
Tháng nhuận không mang can chi riêng, nó dùng lại can chi của tháng chính cùng tên. Đây là quy ước gây lệch kết quả nhiều nhất khi tự tra bằng bảng.
Quan trọng hơn: can chi ngày hoàn toàn không bị tháng nhuận ảnh hưởng, vì nó đếm liên tục theo chu kỳ 60 ngày độc lập với cách chia tháng. Nên khi kết quả tháng có vẻ lạ trong năm nhuận, phần can chi ngày ở trên vẫn dùng được bình thường để xem ngày và xem giờ.
Chỉ nhớ ngày âm, không nhớ ngày dương thì tra can chi kiểu gì?
Ô nhập ở trên nhận ngày dương, nên khi chỉ có ngày âm bạn cần một bước trung gian. Ba cách, chọn cách nào cũng ra cùng kết quả.
Cách ít bước nhất: dùng công cụ đổi lịch âm dương theo chiều âm sang dương để lấy ngày dương, rồi quay lại đây nhập. Cách thứ hai: mở trang chi tiết của ngày đó trên lịch tháng, can chi hiện sẵn cùng các dữ kiện khác. Cách thứ ba, khi mốc cần tra là ngày giỗ lặp hằng năm: đổi một lần rồi ghi lại ngày dương của từng năm, vì ngày dương tương ứng sẽ xê dịch mỗi năm.
Thiên Can và Địa Chi ghép với nhau theo quy tắc nào?
Mười Thiên Can ghép với mười hai Địa Chi nhưng không ra 120 tổ hợp mà chỉ ra 60. Lý do là hai vòng quay cùng chiều và chỉ ghép can lẻ với chi lẻ, can chẵn với chi chẵn, nên một nửa số tổ hợp về mặt số học không bao giờ xuất hiện.
Mười Thiên Can theo thứ tự là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Mười hai Địa Chi là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, ứng đúng với mười hai con giáp quen thuộc.
Hệ quả thực tế của con số 60: một người sống tới 60 tuổi thì gặp lại đúng can chi năm sinh của mình, đó là gốc của tục mừng thọ lục tuần. Với can chi ngày, chu kỳ 60 nghĩa là cứ hai tháng lại lặp một lần, nên hai ngày cách nhau đúng 60 ngày luôn mang cùng tên gọi.
Can chi khác gì con giáp và nạp âm?
Ba khái niệm này lồng vào nhau chứ không thay thế nhau, và đây là chỗ hay lẫn nhất khi mới đọc lịch pháp.
Con giáp chỉ là phần Địa Chi của can chi năm, tức mới một nửa. Hai người cùng tuổi Dần nhưng sinh cách nhau 12 năm sẽ khác Thiên Can, thành Canh Dần và Nhâm Dần, và mọi phép luận đều tính trên cặp đầy đủ chứ không tính riêng con giáp.
Nạp âm là mệnh ngũ hành gán cho từng cặp can chi, ví dụ Giáp Tý mang nạp âm Hải Trung Kim. Nạp âm đi theo cặp chứ không suy được từ riêng can hay riêng chi, nên phải tra bảng. Bảng đầy đủ 60 cặp kèm nạp âm nằm ở trang mệnh ngũ hành.
Can chi vừa tra được dùng vào việc gì?
Bộ can chi là đầu vào của ba nhóm tra cứu quen thuộc nhất trong lịch pháp.
Từ can chi ngày, bạn xác định được sao Trực và bộ giờ hoàng đạo của ngày đó. Từ can chi năm sinh, bạn tra được con giáp, mệnh nạp âm và cung mệnh theo năm sinh.
Toàn bộ 60 tổ hợp can chi cùng nạp âm tương ứng nằm ở bảng Lục Thập Hoa Giáp. Trang này chỉ trả kết quả cho đúng ngày bạn vừa nhập, không thay cho bảng tra đầy đủ.
Giải đáp về can chi ngày tháng năm
Can chi ngày có đổi theo múi giờ không?
Có với các mốc sát nửa đêm. Trang tính theo múi giờ GMT+7 của Việt Nam, nên có thể lệch một ngày so với lịch tính theo múi giờ khác.
Một cặp can chi lặp lại sau bao lâu?
Sau 60 đơn vị. Can chi ngày lặp sau 60 ngày, can chi năm lặp sau 60 năm, đó là chu kỳ Lục Thập Hoa Giáp.
Nạp âm và can chi có phải là một không?
Không. Can chi là tên gọi của thời gian, còn nạp âm là mệnh ngũ hành gán cho từng cặp can chi, ví dụ Giáp Tý mang nạp âm Hải Trung Kim.
Vì sao 10 can ghép 12 chi chỉ ra 60 tổ hợp?
Vì hai vòng quay cùng chiều và chỉ ghép can lẻ với chi lẻ, can chẵn với chi chẵn. Một nửa số tổ hợp về mặt số học không bao giờ xuất hiện, nên còn 60 thay vì 120.
Can chi tháng có cần cho việc xem ngày không?
Không trực tiếp. Ngày tốt xấu và giờ hoàng đạo quyết định bởi can chi ngày; can chi tháng chủ yếu dùng khi luận vận theo mùa hoặc lập lá số.
Can chi trên trang tính theo lịch pháp Việt Nam múi giờ GMT+7, dùng làm căn cứ tham khảo khi xem ngày, xem giờ và xem tuổi. Xem thêm bộ công cụ lịch âm dương.